Đồng thời, duy trì việc học tập tạo cho chúng ta cảm giác bản thân đang không ngừng phát triển, hoàn thiện mỗi ngày, hạnh phúc hơn. Việc học tập, rèn luyện liên tục sẽ giúp chúng ta trở nên trẻ trung, năng động và cảm thấy cuộc sống thật ý nghĩa. Chấp nhận, đối mặt với khó khăn Một ông bố có 4 cô con gái, mỗi ngày đều chuẩn bị đồ ăn, sách vở và lái xe chở con đi học. Chỉ cần con mạnh khoẻ khôn lớn thì bố sẽ hy sinh tất cả. Hình ảnh của ông bố khiến nhiều người cảm động. TẤT CẢ là MỘT. MỘT là TẤT CẢ. Một hột bụi chứ đủ ba ngàn thế giới. Bà ngàn thế giới là một hột bụi: đều là KHÔNG. "Có thì có tự mảy may, Không thì cả thế gian này cũng không. Nhìn xem bóng nguyệt giòng sông, Ai hay không có có không là vầy". (Huyền Quang tôn giả) Bất kỳ bậc cha mẹ nào cũng đều muốn con mình "mỗi ngày đi học là một ngày vui", có những mối quan hệ bạn bè tốt đẹp ở trường. Tuy nhiên trường học cũng giống như một xã hội thu nhỏ, sẽ có niềm vui và cả những mâu thuẫn khó tránh. Con bạn có thể được bạn bè Nơi ở: đâu? mỗi người một cuộc sống. ai cảm thấy họ có mục đích sống "cao cả" hơn mình và cần phải dạy mình về điều đó thì nên mời họ đi tìm người cùng chí hướng mà chơi đi thánh thú à. còn mục đích sống của riêng mình đơn giản chỉ là được thấy mấy Dịch Vụ Hỗ Trợ Vay Tiền Nhanh 1s. Đảm bảo an toàn đón trẻ mầm non đi học trở lại Thời điểm vàng để học sinh lớp 1-6 Hà Nội đi học “Công việc” đi học Tôi vẫn còn nhớ mãi kỷ niệm học môn văn vào lớp 2 của mình cô giáo viết mọi thứ lên bảng, từ tả con gà cho đến kể lại một câu chuyện của em, học sinh sẽ chép lại, học thuộc và chờ đến khi kiểm tra thì viết lại, nguyên xi cũng được. Mọi thứ cứ diễn ra như vậy cho đến một hôm, tôi quyết định thay đổi. Từ chối chép lại bài cô viết, tôi viết một câu chuyện hoàn toàn mới với đề bài là kể lại một buổi làm việc nhà của em. Thay vì xưng “em” như mọi bài văn mẫu hồi đó, tôi xưng “tôi”, và cố viết một cách hóm hỉnh, thậm chí giờ nhìn lại thấy còn hơi phóng túng. Ảnh Bài văn ấy được 9 điểm, và kể từ đó, tôi luôn viết như vậy. Từ cảm hứng của các câu chuyện được đọc từ khi còn bé tôi rất thích các tác phẩm “Tủ sách Vàng” của nhà xuất bản Kim Đồng, tôi viết như một cuộc chơi nho nhỏ, và học khi ấy dần biến thành một thứ gì đó rất dễ chịu. Một số bài đến từ trải nghiệm thực tế, như là chuyện quét nhà, hay đi nghỉ mát, hoặc về quê. Tất nhiên, cách dạy của cô giáo không có gì thay đổi vì một ngoại lệ. Cho đến cấp hai và thậm chí cấp ba, cách dạy văn chủ yếu vẫn là giáo viên chép các ý lên bảng, diễn giải nó theo ý mình và sách hướng dẫn của Bộ Giáo dục - Đào tạo, rồi học sinh cứ bám vào đó làm theo. Làm sai ý là không có điểm, theo ba-rem áp dụng cả vào kỳ thi đại học. Tương tự môn văn, giáo dục lịch sử và rất nhiều môn học quan trọng khác trong nhiều năm diễn ra với sự tiếp nhận thụ động giáo viên truyền đạt và học sinh tiếp thụ nguyên xi, không phản biện, không hứng thú. Không có tính “chơi” trong việc học. Giữa việc nạp kiến thức và tạo ra nhận thức là một khoảng cách mênh mông vì không có khát khao tìm tòi trong đó, học sinh có rất ít thời gian để sử dụng hiệu quả khoảng trống này. Trong suốt thời học phổ thông, tôi như sống trong một thế giới song song vẫn tự tạo lấy những hứng thú ở các góc nhỏ hiếm hoi của riêng mình, và vẫn cố gắng nuốt trọn khối lượng học nặng nề còn lại, như một nhiệm vụ cần phải hoàn thành của “công việc” đi học. Niềm vui trong việc học đa số đều đến từ tự phát cá nhân của học sinh, không phải là gốc của hệ thống giáo dục. Trong cuốn sách “Trẻ con và Vui chơi Một lịch sử Mỹ” 2007, tác giả Howard Chudacoff cho rằng, nửa đầu thế kỷ 20 là “thời kỳ vàng son” của việc trẻ em được tự do vui chơi. Vào những năm 1900, khi nhu cầu lao động trẻ em giảm xuống, trẻ em có nhiều thời gian trống hơn hiện tại. Bắt đầu từ những năm 1960, người lớn tước bỏ sự tự do đó, tăng thời gian học ở trường và đáng nói hơn, hạn chế trẻ em ra ngoài bằng cách giao thêm cho chúng nhiều bài tập về nhà. Các môn thể thao do cha mẹ định hướng bắt đầu thay thế cho các môn do trẻ tự lựa chọn. Các lớp học do cha mẹ ấn vào lấn át sở thích của trẻ. Qua nhiều thập kỷ, những sự thay đổi liên tục này định hình giáo dục ngày nay cơ hội trẻ em được chơi và khám phá theo cách của riêng mình dần biến mất, và học tập trở thành một chủ đề khô khan liên quan đến cơ hội tương lai hơn là có tính chất nhân bản. Việc giảm xu hướng được phép chơi trong khi học này tạo ra những sang chấn tinh thần nghiêm trọng. Tại Mỹ, các chuyên gia tâm lý đã tạo một bảng câu hỏi lâm sàng nhằm đánh giá sự lo lắng và trầm cảm cho các nhóm học sinh bình thường kể từ những năm 1950 tới nay, và kết quả rất đáng lo ngại ngày nay, tỷ lệ mắc rối loạn lo âu và trầm cảm nặng gấp 5 đến 8 lần so với những năm 1950. Trong cùng thời gian, tỷ lệ tự tử ở thanh thiếu niên từ 15 đến 24 tuổi đã tăng hơn gấp đôi và con số ấy với trẻ em dưới 15 tuổi tăng gấp bốn lần. Năm 2016, ước tính có đến 3,1 triệu thanh thiếu niên từ 12-17 tuổi ở Hoa Kỳ trải qua ít nhất một lần trầm cảm nặng, chiếm gần 13% dân số Mỹ trong độ tuổi đó. Sự suy giảm yếu tố chơi trong khi học cũng đi kèm với suy giảm về khả năng đồng cảm cũng như khiến tự ái gia tăng. Một con người có tự ái quá cao thường thiếu quan tâm tới người khác và không có khả năng đồng cảm. Đấy có lẽ là chính xác những gì chúng ta sẽ thấy ở những đứa trẻ ít có cơ hội được tương tác với xã hội. Trẻ em không thể học những kỹ năng và giá trị xã hội này hiệu quả chỉ trong trường học, đặc biệt là khi nhà trường vốn là nơi nuôi dưỡng tinh thần cạnh tranh hơn là hợp tác, và trẻ em không được tự do “nghỉ việc” khi người khác không tôn trọng nhu cầu và mong muốn của chúng. Bạn có thể cảm thấy rằng ý tưởng cho phép trẻ em được chơi nhiều hơn trong khi học là điên rồ, nhưng đã có ngoại lệ chứng minh điều ngược lại trường Sudbury Valley ở Massachusetts. Nó được gọi là một trường học, nhưng vận hành không theo cách chúng ta nghĩ về “trường học”. Các học sinh ở độ tuổi từ 4-19 được tự do làm bất cứ điều gì mình muốn, miễn là không vi phạm quy tắc nào của nhà trường. Các quy tắc cũng không liên quan gì đến việc học. Ngôi trường đã tồn tại gần nửa thế kỷ, với hàng trăm học sinh tốt nghiệp, những người đang làm việc rất tốt ngoài đời, không phải vì trường học của họ dạy bách khoa toàn thư, mà vì họ được cho phép học bất cứ thứ gì mình muốn. Họ không nhất thiết phải nghĩ về bản thân như là một người đang phải làm “công việc” đi học. Họ chỉ nghĩ mình vẫn đang chơi, nhưng trong quá trình đó, họ cũng đang học hỏi nhiều thứ. Tinh thần cốt lõi của giáo dục hiện đại đang biến việc học thành một “công việc” có gánh nặng khủng khiếp tương đương với các vị trí giàu áp lực nhất trong đời sống. Chúng ta có lẽ không cần thêm một công việc được hợp thức hóa kiểu đó, được ấn vào tay trẻ em, với đầy đủ những áp lực và bi kịch cuộc sống của thế giới người lớn đi kèm, sớm đến thế. Phạm An Hạnh phúc có là mục tiêu? “Hạnh phúc” có phải là một mục tiêu giáo dục không? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời, nếu chỉ nhìn vào các chính sách của Việt Nam hiện nay. “Hạnh phúc” là một mục tiêu chính thức của Việt Nam từ thời lập quốc. Mùng 2 tháng 9 năm 1945, “hạnh phúc” là một trong những khái niệm đầu tiên được nhắc đến trong Bản Tuyên ngôn độc lập. Hơn một tháng sau, chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên viết ba chữ Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc lên đầu một sắc lệnh. Và nó được sử dụng đến ngày nay. Trong đời một người Việt Nam, chúng ta phải nhìn thấy chữ này hàng nghìn lần, có thể phải tự viết ra nó cả trăm lần. Ngay cả khi viết đơn ly hôn hay đơn trình báo mất trộm. Nhiều người sẽ nói rằng “hạnh phúc” là thứ rất khó định nghĩa. Nhưng chúng ta, trong tư cách một cộng đồng, đã khẳng định qua nhiều thế hệ rằng cho dù nó có là gì thì ta cũng theo đuổi đến cùng. Thậm chí “mưu cầu hạnh phúc” còn là một trong những lý do để quốc gia này ra đời. Và khi mục tiêu của giáo dục là “phát triển toàn diện con người Việt Nam” theo Luật giáo dục 2019 thì hạnh phúc phải là một tiêu chí gốc. Tức là nó phải được nêu ra trước, rồi định nghĩa sau. Mỗi thời đại có thể định nghĩa khác nhau, mỗi nhiệm kỳ Bộ trưởng có thể định nghĩa khác nhau, mỗi lần sửa đổi Luật giáo dục và Luật trẻ em có thể nêu ra các tiêu chí mới của “hạnh phúc”. Miễn là lúc nào ta cũng phải biết rằng mình đang đi đến đâu. Nếu nhìn vào các chính sách giáo dục hiện tại, có lý do để tin rằng hạnh phúc chưa phải là một mục tiêu giáo dục. Trong các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục, bạn sẽ nhìn thấy “học lực, hạnh kiểm”. Trong các quyết định đầu tư cho giáo dục, bạn sẽ nhìn thấy cơ sở là “gắn với phát triển kinh tế-xã hội”, “đảm bảo nguồn nhân lực”. Luật Giáo dục viết rằng “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”. Nghe có mùi tăng trưởng GDP. Trong Luật Giáo dục, chữ “kinh tế” được dùng 23 lần. Chữ “tinh thần” được dùng cho người học 2 lần thì cũng có một lần là “tinh thần lập nghiệp”, cũng lại là vấn đề kinh tế. Chữ “tình cảm” được dùng 3 lần thì đã có 2 lần để nói về giáo dục mầm non. Có vẻ được chăm sóc tình cảm là đặc quyền của các em bé còn đi học phổ thông thì phải nghĩ về... lập nghiệp là chủ yếu chứ. Chữ “tâm lý” không được dùng lần nào, mà Luật chỉ dùng khái niệm “tâm sinh lý lứa tuổi” – một khái niệm rất chung, nói về đặc tính tập thể chứ không hướng tới tâm lý cá nhân. Thập niên trước, trong các nghị quyết, phát triển giáo dục còn công khai gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tất nhiên công nghiệp hóa hiện đại hóa cũng cần. Nhưng nếu nhìn về những gì quốc gia của chúng ta đã đề xuất năm 1945 – mọi thứ chỉ là công cụ để có Độc Lập, Tự do và Hạnh phúc. Phát triển kinh tế luôn chỉ là phương tiện, không phải là mục tiêu. Việc tuyên bố hạnh phúc là mục tiêu giáo dục không xa lạ trên thế giới. Người ta có thể nhìn thấy nó ở các quốc gia nổi tiếng... hạnh phúc, như Phần Lan hay Bhutan. Việc nhấn mạnh liên tục vào mục tiêu phát triển kinh tế thậm chí có thể tạo ra những con người bất hạnh. Bạn đã bao giờ gặp một người bị giày vò vì cảm thấy họ tụt lại trong cuộc đua kinh tế chưa? Chắc là đã gặp rồi, có thể chính bạn cũng đang bị giày vò như thế. Đó không cần phải là một người gặp vấn đề cực đoan như anh Hộ trong “Đời thừa” của Nam Cao - anh Hộ thậm chí không đủ tiền đong gạo. Đó có thể chỉ là một người vẫn đang sống bình lặng, đủ dinh dưỡng, đủ sức khỏe, nuôi được con đi học trường công. Và anh ta vẫn day dứt vì mình không thể kiếm nhiều tiền hơn, có một công việc lương cao hơn hoặc tham gia cùng với công cuộc tăng trưởng thần tốc của nền kinh tế. Sự day dứt đó, rất có thể là kết quả của giáo dục – của một triết lý đã được truyền dạy qua nhiều thế hệ, rằng thành công của một con người thể hiện phần lớn qua khía cạnh kinh tế. Bạn đã bao giờ gặp một người có kinh tế rồi, nhưng vẫn bất hạnh chưa? Cô ta không thiếu tiền, nhưng không biết dùng tiền làm việc gì để bản thân cảm thấy thoải mái. Cô ta quay quắt trong các câu hỏi tại sao mình không thấy hài lòng, tại sao mình không thấy vui, tại sao mình cảm thấy bi quan và chán nản thường trực. Suốt tuổi thiếu niên, không có hệ thống giáo dục nào, trong và ngoài nhà trường, dạy cô ta cách hài lòng, cách tìm kiếm niềm vui và sự lạc quan trong cuộc sống. Bạn đã bao giờ gặp một người có kinh tế, có niềm vui, nhưng vô thức tạo ra bất hạnh cho người khác chưa? Đó có thể là một ông chủ làm giàu bất chấp, đẩy nhân sự và cộng đồng quanh nhà máy của mình đến những giới hạn của sự chịu đựng chừng nào nó còn hợp pháp. Ông ta có định nghĩa về hạnh phúc, nhưng nó không bao gồm hạnh phúc của cộng đồng. Rất nhiều điều tốt đẹp có thể được tạo ra nếu chúng ta đưa “hạnh phúc” là một mục tiêu chính thức của giáo dục. Câu hỏi làm thế nào để học sinh thích học môn xã hội, có thể được trả lời nếu niềm vui là một tiêu chí đo lường chất lượng. Câu hỏi làm sao để giảm bớt học sinh trầm cảm, có thể được trả lời nếu tạo ra sự lạc quan là nhiệm vụ chính thức của nhà giáo. Rất nhiều câu hỏi có thể được trả lời, nếu vấn đề “tinh thần” được nêu trong Luật Giáo dục không chỉ là “tinh thần khởi nghiệp”. Đức Hoàng Hãy giải phóng giáo viên “Đi học có vui không?”. Đó là một câu hỏi mà phụ huynh nên hỏi con mình sau mỗi ngày tới lớp thay vì những câu như “Hôm nay con học như thế nào?” hay “Hôm nay làm bài kiểm tra được không?”. Nếu không có niềm vui, chúng ta sẽ không muốn trở lại một nơi ta mới qua, gặp lại một người ta mới quen… thêm một lần nào nữa. Và chúng ta là người lớn. Còn trẻ em, chúng càng say mê với niềm vui hơn, hay nói thẳng là ham vui hơn. Do đó, dứt khoát muốn việc học không trở thành gánh nặng, đi học là phải vui. Ảnh Con trai tôi, 6 tuổi, năm nay vào lớp Một, và buộc phải học online suốt cả học kỳ 1. Ai cũng chép miệng cảm thông “khổ thân thằng bé, học lớp Một mà đã online thì học được cái gì?”. Tôi thì dửng dưng như không. Quan điểm của tôi rất rõ. Ngay cả khi con học online, tôi cũng không kè kè ngay bên cạnh. Tất nhiên là có để ý đến con để nhắc cháu nghiêm túc, một thái độ cần có trước giáo viên, nhưng không biến mình thành “cảnh sát giáo dục tại gia”. Tôi cho là nếu cháu có phải lưu ban lại một năm lớp Một nữa cũng chẳng sao. Nuôi con thêm một năm ăn học cũng không làm ta nghèo đi. Quan trọng là con đi học phải vui. Bây giờ, đi học ở trường rồi, tôi cũng không quá căng thẳng chuyện con sẽ học như thế nào. Tôi luôn hỏi nó “Đi học có vui không?” và nắm bắt được niềm vui của nó là mỗi sáng được vào căng tin của trường ăn sáng cùng với chị. À, ít ra là nó có một thứ phấn khích mỗi khi tới trường. Chỉ sợ nó không coi việc đến trường có chút phấn khích nào thôi. Còn thích đến trường, nó sẽ đến trường một cách tự nguyện. Nếu bây giờ có một cuộc “trưng cầu học sinh ý” bằng câu hỏi “Các con đi học có vui không?”, chúng ta đoán thử xem tỷ lệ phần trăm chọn “Vui”, chọn “Không vui” hay chọn “Cũng bình thường” là bao nhiêu. Lạc quan hay tiêu cực, có thể nó là cách nhìn nhận của mỗi người nhưng tôi dám đoan chắc, không ai dám khẳng định rằng 100% học sinh sẽ không lựa chọn mục “Không vui”. Đơn giản, có rất nhiều đứa trẻ đang cảm thấy việc đi học là không vui, là áp lực, là trách nhiệm. Với chúng, may mà ở trường còn có bạn. Chấm hết. Còn với những đứa trẻ có vấn đề về tâm lý và giao tiếp để tới mức cô đơn ở chính trong mái trường của mình, cuộc sống của nó không khác gì địa ngục trong khi chúng ta ngỡ rằng quần áo sạch đẹp, cơm bưng nước rót là con mình đang hạnh phúc rất nhiều. Chúng ta đã và vẫn bàn rất nhiều về cải cách giáo dục, về thay đổi giáo trình, về thay đổi phương pháp thi cử, về quy hoạch môn học và mà chưa một ai đi vào trọng tâm của vấn đề nội tại của giáo dục Việt Nam hôm nay. Thực ra, một giáo trình dở không đủ sức giết toàn bộ nền giáo dục, hoặc làm hỏng cả mấy thế hệ học sinh. Tất nhiên, nội dung giáo dục tức giáo trình, có thể tạo ra các dấu hằn nhận thức nhưng cuộc đời con người vốn dĩ luôn mở hướng ngoại nên chắc chắn sẽ có lúc người ta tiếp nhận kiến thức ngoài giảng đường và chống lại những áp đặt giáo dục phi lý trên giảng đường. Cái mà giáo dục Việt Nam cần gấp ngày hôm nay không chỉ là chuyện giáo trình nữa mà là chuyện khác Cần phải giải phóng giáo viên. Chúng ta cứ ngỡ chỉ có học sinh mới là nạn nhân trong một cái khuôn khổ giáo dục giáo điều và khô khan nhưng thực tế, học sinh chỉ là nạn nhân cuối cùng. Nạn nhân đầu tiên phải chính là giáo viên. Chính giáo viên đang bị đóng khung trong một bắt buộc bất thành văn là “phải dạy theo cách nào”. Khi giáo viên mất đi không gian sáng tạo riêng của mình, họ sẽ không thể nào tạo ra sức sống trên giảng đường và từ đó biến lớp học thành một màn chịu đựng cho cả thầy lẫn trò. Con gái tôi học lớp 3 và tôi thầm cảm ơn người giáo viên chủ nhiệm của nó. Tôi hỏi con “Thầy giáo con thế nào?” thì câu trả lời luôn là cái nhoẻn miệng cười của con bé “Thầy vui lắm nhưng cũng nghiêm lắm ba”. Trong ánh mắt của nó, tôi biết, nó thích học từ thầy. Làm sao mà không thích được khi có một ông thầy cứ thứ Bảy, Chủ nhật lại về quê và mang lên khi thì một bịch trứng gà so nhà nuôi, khi thì bịch trái cây, lúc lại bịch bánh tráng và sử dụng chúng làm phần thưởng trên lớp cho những học trò nào hôm đó trả lời tốt các câu hỏi bài học mà thầy đưa ra. Và đó cũng là lý do bữa nào đi học con gái tôi cũng yêu cầu bỏ vào balo của nó một cái túi nylon sạch để “lỡ hôm nay được thưởng quà của thầy còn có cái đựng chứ như bữa trước con được 3 trứng gà mà con không có bao mang về”. Chỉ tiếc, và cực tiếc, những người thầy như thầy của con gái tôi, lại là dạng cá biệt hiếm có ở hệ thống giáo dục Việt Nam hôm nay. Đó là một người thầy tự giải phóng mình khỏi mọi ràng buộc khuôn khổ chỉ để tạo ra một không khí học thực sự tươi tắn cho lũ trẻ nít của mình. Người Nhật có câu ngạn ngữ rất hay đại ý “Ngàn ngày cần cù không bằng một ngày được học với chân sư”. Câu ngạn ngữ này mới được trích dẫn đưa vào một tham luận giáo dục của bang Arkansas - Mỹ có chủ đề “chúng ta cần tuyển dụng, bồi dưỡng và động viên những nhà giáo dục”. Quan điểm rõ ràng ở tham luận này là phải tạo ra những “nhà giáo dục” chứ không phải chỉ đáp ứng một nhu cầu dịch vụ bằng cách tuyển lựa những giáo viên đơn thuần. Và một trong những giải pháp mà tham luận này đưa ra, sau khi tham khảo các giáo viên và học sinh, chính là “giảm kích cỡ, quy mô lớp học thành các nhóm nhỏ”. Theo đó, nếu một lớp học được giảm kích cỡ xuống thành nhóm nhỏ, giảng dạy sẽ giống như hoạt động nhóm hơn, với nhiều thời gian tương tác một - một giữa thầy và trò, từ đó giúp khai mở sức sáng tạo của thầy và niềm hứng khởi của trò. Gần đây, một số trang mạng có đăng tải một loạt các ảnh chụp màn hình những bài đăng tuyên truyền được thực hiện bởi chính chi đoàn các trường phổ thông trung học mà ở đó, bi kịch là kiến thức lịch sử của các em hổng đến mức ngây ngô. Và họ gắn nó đến việc biến môn sử thành môn tự chọn ở cấp 3. Thực chất, môn sử là bắt buộc hay tự chọn ở cấp 3 không mang tính quyết định chuyện một thế hệ học sinh sẽ có kiến thức lịch sử như thế nào. Thứ quyết định phải là cách dạy sử của chính các giáo viên. Và hãy đặt ra câu hỏi này “giáo viên có muốn phá cách trong phương pháp giảng dạy để thu hút học sinh hơn hay không?”. Tôi tin là có. Nhưng họ có được phép làm như thế hay không? Tôi chưa dám hoàn toàn phủ nhận đáp án “Không”. Đi học là phải vui. Nhưng đi dạy cũng phải vui. Nếu giáo viên cảm thấy việc đi dạy cũng chỉ là “trả bài” thì học sinh cũng đi học như “trách nhiệm”. Chúng ta cần nhiều nhà giáo dục ở giảng đường hơn là các giáo viên. Vậy thì muốn các giáo viên có thể phát triển thành nhà giáo dục, ngành giáo dục cần phải giải phóng họ trước khỏi những khuôn mẫu giảng dạy đã tồn tại nhiều thập niên nay rồi. Hà Quang Minh TT - Giáo dục luôn là ưu tiên hàng đầu của tất cả các quốc gia. Việc ưu tiên cho học tập của con cái cũng là sự lựa chọn hàng đầu của các bậc phụ huynh. Chính vì thế, dù muốn hay không, giáo dục vẫn luôn là chủ đề quan tâm số một của thế giới. Phóng toHọc sinh Trường trung học South East Junior bang Iowa, Mỹ học tập tại thư viện trườngTT - Giáo dục luôn là ưu tiên hàng đầu của tất cả các quốc gia. Việc ưu tiên cho học tập của con cái cũng là sự lựa chọn hàng đầu của các bậc phụ huynh. Chính vì thế, dù muốn hay không, giáo dục vẫn luôn là chủ đề quan tâm số một của thế giới. Xin được chia sẻ với bạn đọc Tuổi Trẻ đôi điều cưỡi ngựa xem hoa về nền giáo dục Mỹ. 1. Thằng bé tròn trịa với chiếc răng thỏ ngoan ngoãn khoanh tay thưa bố mẹ, anh chị rồi ra xe, tự buộc dây an toàn và líu lo câu chuyện với người chú - là tôi. Nó đang hát khe khẽ bài hát gì đó, hình như là bài hát mà bọn trẻ con lúc học mẫu giáo hay hát. Rồi nó liến thoắng nói với tôi “Chú này, cháu sẽ làm một cái thí nghiệm hấp dẫn về trứng và nhộng thành bướm...”. Chưa đầy một phút sau, cu cậu lại quay sang tôi “Cháu sẽ ăn trưa trong trường với các bạn hả chú? Thật là vui”. Lớp 1 của cháu bắt đầu như thế. Được một học kỳ, cu cậu hớn hở thông báo mình được nằm trong đội kịch của trường. Đến cuối năm học thì cậu lại toe toét “Con sẽ thi vẽ tranh mùa hè của tiểu bang...”. Cứ thế, mỗi ngày đi học là một niềm vui của cậu bé. Dĩ nhiên cũng có những phiền hà nho nhỏ nào đó nhưng chúng chóng qua. Và cậu nhỏ mong mình thành một người giỏi hơn Bill Gates vì cậu muốn thống trị phần mềm thế giới lại vừa chơi kèn trumpet thật xịn và vẽ tranh như Picasso. Tất nhiên, mọi thành viên trong gia đình đều cười tủm tỉm khi nghe cậu thỏ thẻ tỏ bày ước mơ và dõng dạc nói “Cô giáo con nói cứ dám ước mơ thì sẽ có ngày làm được”. 2. Cựu tổng thống Bill Clinton từng ủng hộ mạnh mẽ nỗ lực để phát triển nền giáo dục Mỹ, đồng thời đưa ra những tiêu chuẩn quốc gia ở các môn toán, khoa học, tiếng Anh và lịch sử. Tại hội nghị cấp cao về giáo dục của Hiệp hội các thống đốc liên bang năm 1996, ông đã phát biểu “Tôi tin rằng điều quan trọng nhất mà các vị có thể làm là kỳ vọng lớn vào sinh viên, khiến họ tin rằng họ có thể học..., đánh giá liệu họ có học được hay không, buộc họ phải có trách nhiệm cũng như khen thưởng họ”. Đây là một phần trong kế hoạch đồ sộ “chấn hưng giáo dục” Mỹ với các mục tiêu có thể khiến bất cứ nền giáo dục nào cũng ghen tị. Hiện tại, mục tiêu mà nền giáo dục quốc gia này hướng tới là mỗi thanh niên Mỹ đang thật sự cố gắng để có được một cái đầu giỏi, một lòng nhiệt tình không ngừng khám phá và một khả năng áp dụng kiến thức vào công việc. Đây là những chiếc chìa khóa mới để bước vào tương lai của thanh niên, vào thành công trong công việc của họ và góp phần xây dựng sự thịnh vượng của nền kinh tế đất nước. 3. Helena, gốc Phi, năm nay 27 tuổi, có hai bằng tiến sĩ. Hiện đang làm việc cho một tập đoàn cho thuê tài chính hùng mạnh của Mỹ. Cô là điển hình cho một hình mẫu thanh niên nhập cư thành đạt từ con đường giáo dục. Có rất nhiều sự lựa chọn cho người học, học chế tín chỉ và sự tích lũy cho phép nhảy lớp rất nhanh chóng. Nếu đủ năng lực, bạn có thể chỉ hoàn tất chương trình đại học trong hai năm. Cũng có rất nhiều học bổng cho các loại năng khiếu từ học hành đến thể thao và mọi thứ khác. Nếu thật sự là một người “khát học”, bạn sẽ được hỗ trợ hết mình để có thể học tốt nhất. Có khá nhiều Việt kiều thế hệ thứ hai đã chọn việc học tập làm động lực chính để phấn đấu và sống ở nước Mỹ. Họ không chấp nhận những việc làm tạm bợ, đơn giản và thủ công. Dù trên thực tế, những công việc đó có thể đem lại thu nhập nhiều hơn do không bị đánh thuế thu nhập và vốn đầu tư ban đầu cũng ít cả về tiền nong lẫn công sức. Một làn sóng mới tại Mỹ đã cho thấy thanh niên ngày nay càng lúc càng chú trọng việc nâng cao năng lực cá nhân của mình trong lĩnh vực chuyên sâu. Họ muốn chuẩn bị chỗ đứng thật vững chắc từ nền móng của việc học tập. Thực tế có những học sinh vừa rời ghế nhà trường đã mở những công ty con để tập tành kinh doanh, nhằm mục đích ứng dụng những kiến thức tích lũy của mình vào thực tế. Dám học, dám sáng tạo, dám áp dụng vào thực tế và chịu trách nhiệm kết quả của mình. Tìm thấy niềm vui trong học tập là một việc hết sức quan trọng mà bất kỳ nền giáo dục quốc gia nào cũng nên tạo dựng cho học sinh. Động lực học tập suốt đời nằm ở mỗi cá nhân. Không một triết lý giáo dục nào có thể đáp ứng hết mọi nhu cầu vốn hết sức đa dạng của một quốc gia. Điều quan trọng nhất là nên chọn hướng đi nào thật sự phù hợp với đất nước và đi theo nó để đạt đến kết quả cuối cùng. Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi. Người ta ví người giáo viên như người chở đò quả chẳng sai. Biết bao thế hệ học trò đến rồi đi. Có lẽ niềm vui lớn nhất của người giáo viên là thấy học sinh của mình trở thành những người có ích cho xã hội. Không có một món quà nào giá trị bằng sự chăm ngoan của học sinh. Ra đường lâu lâu lại thấy một khuôn mặt lạ hoắc “Em chào cô ạ”. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cho tôi hạnh phúc và tự hào biết chừng nào. Cuộc sống cứ trôi đi, niềm vui và nỗi buồn đong đầy trong kí đời thật lạ kì. Thuở nhỏ tôi từng ước mơ sau này lớn lên sẽ làm nghề gì để kiếm được thật nhiều tiền. Vậy mà chẳng hiểu số phận đẩy đưa sao lại vào Sư phạm. Có lẽ đó là cái duyên. Những năm tháng sinh viên rồi cũng nhanh chóng trôi đi. Ngày ra trường đi dạy với bao nỗi niềm khác ấy lương giáo viên nghèo không đủ sống. Rất nhiều bạn bè cùng ra trường đã bỏ nghề. Tôi cũng từng có ý định này khi được bạn rủ rê làm ngành khác. Thế nhưng má tôi không đồng ý. Má bảo nghề giáo viên nghèo nhưng chất chứa niềm vui. Má mấy chục năm trong nghề mà vẫn muốn kiếp sau lại được chọn nghề rồi tôi hậm hực đi dạy với nỗi buồn không tên. Thế nhưng cuộc đời luôn có những điều kì lạ. Lúc đầu đi làm vì má nói nhiều. Vậy mà chẳng hiểu sao giờ lại yêu quý nó vô cùng. Được đứng trên bục giảng, được truyền kiến thức cho học trò là niềm vui lớn nhất trong đời hai mươi năm đi dạy, có biết bao niềm vui và nỗi buồn. Bao lần gặp những học trò ngỗ nghịch, những lời nói vô tình khiến tôi rơi nước mắt. Rồi cả những áp lực công việc khiến tôi chán nản vô cùng. Thế rồi khi bình tâm trở lại, cộng với lòng bao dung và tình yêu thương học sinh vô bờ bến lại khiến tôi bỏ qua tất cả. Chỉ cần một lời hỏi thăm, một câu chúc sức khỏe của các em cũng khiến tôi vô cùng hạnh phúc. Rất nhiều học trò sau khi ra trường vẫn thỉnh thoảng ghé lại hỏi thăm sức khỏe của cô. Các em thường gợi những kỉ niệm khiến cả cô và trò đều bật cười. Rồi cả những học trò cá biệt bảo ân hận vì ngày xưa không nghe lời cô nên giờ mới khổ. Bấy nhiêu thôi cũng đủ tôi hạnh phúc vô bờ .Thực ra, nghề gì cũng đòi hỏi ta phải có lòng yêu nghề và cái tâm trong sáng. Với tôi bây giờ cuộc sống thật thanh thản. Sau những giờ lên lớp, tôi có thời gian đắm mình trong những trang sách. Quả thực hạnh phúc của người giáo viên thật khó diễn tả bằng lời. Thành quả của người giáo viên là không thể đo đếm được. Sự thành đạt của các thế hệ học trò luôn là niềm vui vô bờ bến của người giáo viên. Bây giờ tôi chẳng mong ước gì hơn trong cuộc sống này. Hàng ngày tôi lên lớp và truyền đạt kiến thức cho học sinh. Tôi luôn bằng lòng với những gì mình có và không buồn với những gì chưa có. Nhờ đó mà tâm hồn tôi luôn thanh thản. Má luôn dạy tôi rằng cuộc đời rất công bằng, con hãy gieo những nhân lành để gặt những trái ngọt. Với tôi mỗi ngày đến trường giờ là một ngày 11 lại về mang theo cái không khí se se lạnh. Nhìn con chuẩn bị những tấm thiệp nhỏ tặng thầy cô mà tôi không khỏi xốn xang. Ngày xưa tôi cũng từng có những cảm xúc ấy. Mỗi khi đến ngày lễ nhà giáo, đám học trò lại cố gắng chăm ngoan để cô vui lòng. Có lần tôi còn thao thức cả đêm để vẽ tặng cô những tấm thiệp xinh xinh. Đã bao ngày 20/11 mà mình chưa về thăm lại thầy cô rồi nhỉ. Ngày xưa tôi từng hứa sẽ về thăm thầy cô thường xuyên. Vậy mà cuộc sống cơm áo gạo tiền đã cuốn trôi đi tất cả. Mỗi ngày 20/11 đến/ tôi lại bùi ngùi nhớ đến thầy cô giáo cũ của mình. Tự đáy lòng mình, tôi xin gửi lời chúc đến tất cả thầy cô giáo của tôi với lòng kính trọng và biết những người đã chọn nghề giáo làm bến đỗ cuộc đời, hãy vui lên vì các em học sinh. Hãy mỉm cười mà tự hào vì được làm nghề cao quý nhất trong các nghề cao Thị LoátTrường THCS Thái Bình - Châu Thành - Tây NinhMọi thông tin, bài viết đóng góp cho chuyên mục Giáo dục, quý độc giả có thể gửi ban Giáo dục báo điện tử Dân trí theo địa chỉ email giaoduc . Xin trân trọng cảm ơn! NIỀM VUI MỖI NGÀY Đối với những người sống lạc quan, tin tưởng và phó thác thì cuộc sống mỗi ngày là một niềm vui, bởi vì cuộc sống tự nó là một ân ban và là một khám phá không ngừng về chính mình, về Thiên Chúa, về tha nhân và vũ trụ vạn vật. Biết rằng, bước theo Chúa là từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà đi theo, nhưng đó là con đường đi lên và triển nở của một nhân cách làm người và làm con Thiên Chúa không thể thiếu. Mỗi một sự từ bỏ và vượt qua chính mình lại phát sinh một niềm vui sâu lắng; đau khổ giúp con người lớn lên và mỗi chặng đường thập giá lại phát hiện một cảm nghiệm tâm linh và hạnh phúc thâm trầm. Thiên Chúa sáng tạo và cứu độ là để thông chia cho con người niềm vui và hạnh phúc của Ngài. Chính vì vậy mà Thánh Phaolo đã kêu gọi “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại vui lên anh em!”Pl 4, 4. Thánh Phêrô cũng đã nói “Mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em”. Thật vậy, Kitô hữu là những người được đong đầy niềm vui, vì họ đang sống trong niềm hy vọng phục sinh, vì thế họ càng phải là những chứng nhân của niềm vui giữa cuộc đời này. Nhưng thực tế có như vậy không, thì còn phải xét lại. Đối với một tâm hồn càng khiêm tốn thì niềm vui còn nằm ngay trong những khía cạnh tiêu cực của cuộc đời. Vì thế, họ có thể vui ngay trước những lời chê bai, phê bình chỉ trích của người khác. Điều quan trọng là sự thật về bản thân mình. Thánh Terêsa rất vui khi người ta phê phán tiêu cực về Ngài, và Ngài rất sợ những lời khen lao ca ngợi của người khác. Vì thế mà Ngài luôn xin ơn được người đời khinh chê. Nhớ rằng chính Chúa đã từng bị cáo gian, từng bị hiểu lầm, từng bị phủ nhận, từng bị chụp mũ….Vả lại, mình có lầm lỗi đi nữa thì cũng là chuyện bình thường. Ta cũng có thể vui trước những yếu đuối và lầm lỗi của mình. Thánh Têrêsa nói rằng “Em còn rất nhiều yếu đuối và bất toàn, nhưng em rất vui. Đối với em, sa ngã hằng ngày cũng chẳng hệ gì, vì nhờ vậy mà em thấy mình yếu hèn và biết nương tựa vào Chúa hơn”. Để niềm vui có thể lớn thêm mỗi ngày, ta cần đào sâu tinh thần lạc quan, tin tưởng và phó thác. LẠC QUAN Mọi sự trong cuộc sống vẫn diễn biến và xảy ra trước mắt ta, nhưng tâm trạng của mỗi người trước một tình cảnh thì lại khác nhau. Điều đó tùy thuộc cái nhìn và cách nhìn vấn đề của mỗi người trong cuộc sống hằng ngày. Đối với người có đức tin thì luôn có cái nhìn lạc quan và hy vọng, vì biết rằng mọi sự có thể do con người tạo nên nhưng tất cả đều nằm trong chương trình tình yêu và sự quan phòng của Chúa. Đức tin đặt để mọi sự trên nền tảng của quyền năng và lòng thương xót Chúa, cho nên trước những bóng tối người ta vẫn thấy ánh sáng, không thể vì một đám mây đen mà ta có thể quên mất cả bầu trời trong sáng. Ta thấy cái nhìn của Chúa Giêsu cũng đầy lạc quan khi Ngài trình bày dụ ngôn về Nước Trời "Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được."Mt 13, 31 Ngài còn lấy một hình ảnh khác "Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men." Mt 13, 33. Như Chúa Giêsu, phải tập cho mình tính lạc quan khi nhìn sự việc, đồng thời giữ được quân bình giữa những thăng trầm của cuộc sống. Tập cho mình tính lạc quan không có nghĩa là xây nhà trên cát hay như con đà điểu chui đầu vào đống cát để tránh né nguy hiểm đang xảy ra, nhưng là luôn giữ quân bình nội tâm giữa những khó khăn hằng ngày. Người có tinh thần lạc quan cũng là con người thực tế, biết mình cần phải làm gì để góp phần giải quyết vấn đề một cách tích cực hơn theo khả năng của mình, chứ không làm ngơ mặc tình cho cuộc sống dun dủi, đẩy đưa, may nhờ rủi chịu. “Chân lý thuộc về những người không chịu sống đời nhỏ nhoi”. Sự hiện diện của mình trong Chúa Kitô không cho phép mình sống tầm thường và thỏa hiệp với những điều thấp kém. Tuy nhiên người lạc quan có những khi cũng phải biết chấp nhận sự giằn co giữa lý thuyết và thực tế. Lý thuyết bao giờ cũng đẹp, nhưng thực tế thì bản thân mình và cộng đoàn còn phải phấn đấu vươn lên từng ngày. Người lạc quan không ảo tưởng, vì biết rằng chẳng ai và chẳng cộng đoàn nào là hoàn hảo. Cuộc sống không có sự hoàn hảo đúng nghĩa mà chỉ có hoàn hảo hơn mỗi ngày. Vì thế, phải biết chấp nhận những khó khăn và giới hạn của mình, của người khác cũng như của môi trường và trong hoàn cảnh cụ thể. III. TIN TƯỞNG Tinh thần lạc quan tin tưởng còn được vun trồng bằng cái nhìn tích cực, biết tìm kiếm những gì tốt đẹp, biết đánh giá trị những khả năng của mình. Trái lại, nếu chỉ bận tâm đến những gì mình muốn có nhưng chẳng được, thì chẳng khác gì đổ tro tàn trên đống than nguội. Bà Magarita, thân mẫu của Cha Don Bosco, mỗi tối bà thường đem các con ra trước sân nhà, giơ tay chỉ lên bầu trời và nói “Chỉ khi nào màn đêm buông xuống, chúng ta mới có thể nhìn thấy những vì sao lấp lánh trên trời”. Quả thật, suốt đời Cha Don Bosco đã không bao giờ quên được lời khuyên dạy đầy khôn ngoan của mẹ. Đó là những tia sáng hy vọng đã thắp lên, nhờ đó Cha Don Bosco đã là thầy dạy, là nhà giáo dục đầy lạc quan tin tưởng cho các học sinh nghèo, những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Với tâm hồn lạc quan sẵn có, cũng như lòng tin tưởng mạnh mẽ vào tình thương quan phòng của Chúa, cha Don Bosco đã huấn luyện các học sinh của Ngài cởi bỏ cái nhìn bi quan để khám phá những điều tốt lành quanh mình, tin tưởng vào khả năng của mình và hướng nhìn tương lai với niềm hy vọng. Như người thanh niên nọ mỗi sáng vừa thức dậy, anh ta mở toang cửa sổ, hít thở không khí trong lành của ngày mới và mỉm cười cất tiếng hát “Đây là ngày Thiên Chúa dựng nên, chúng ta hãy vui mừng hoan hỉ”. Sự lạc quan tin tưởng được xây dựng trên nền tảng đức tin, tin mình được cứu độ, được tha thứ, được yêu thương vô cùng. Thiên Chúa cao cả không phải vì Ngài “toàn năng”, nhưng vì Ngài “toàn ái”. Ngài siêu việt vì Ngài là “Tình yêu tuyệt đối”. Bởi vậy, đức tin là con mắt thần, là sức mạnh vũ bão. Người có đức tin trông thấy những điều mà kẻ khác không trông thấy, làm được những cái kẻ khác không thể làm được. Đức tin cần để những phép lạ được thực hiện Lc 7, 50; 8, 48, “Con có tin không?”, đó là câu hỏi của Chúa Giêsu trước khi Ngài làm phép lạ để cứu chữa bệnh nhân, để rồi sau đó Ngài kết thúc bằng câu . “Đức tin con đã cứu con”. Chúa Giêsu không thể làm gì được cho con người khi họ không có lòng tin Mc 6, 5-6. Thánh Têrêsa cũng đã xác quyết “Chúa Giêsu có thể làm được mọi sự; lòng trông cậy làm được những phép lạ”. Và Thánh nữ cho biết rằng “Điều xúc phạm đến Chúa Giêsu và khiến Thánh Tâm Ngài phải sầu khổ, đó là lòng thiếu tin tưởng vào Ngài”. Lạc quan tin tưởng là trang sức thánh thiện của Têrêsa. Thánh nữ đã viết như sau “Con không bước đi trên đường sợ hãi, con luôn biết tìm phương thế để được hạnh phúc, và biết lợi dụng những cảnh khốn cùng của con. Chính Chúa Giêsu đã khích lệ con bước đi trên đường này”. Ngay cả đối với tội lỗi lớn lao, Têrêsa cũng không hề thất vọng “Con cảm thấy dù lương tâm con có đầy những tội ác tầy trời con có thể phạm, con cũng không mất lòng cậy trông tin tưởng...Không gì có thể làm con sợ hãi, vì con biết phải xử làm sao với tình yêu và lòng thương xót Chúa. Con biết muôn vàn tội lỗi con sẽ tiêu tan trong nháy mắt như một giọt nước rơi vào giữa lòng than hồng”. IV. PHÓ THÁC Lạc quan tin tưởng gắn liền với tinh thần phó thác. Lạc quan tin tưởng cho ta niềm hy vọng và phó thác cho ta niềm an vui. Phó thác theo ý Chúa muốn chứ không theo ý mình muốn. Vì chỉ có Chúa mới thấy những gì tốt đẹp nhất cho cuộc đời mình. Luôn nhớ rằng, mọi công việc ta làm là của Chúa, thành công hay thất bại của ta cũng chính là thành công hay thất bại của Chúa. Chúa chỉ cần ta cố gắng hết mình. Phần còn lại, chính Chúa sẽ hành động, cứ phó thác hết cho Ngài. Ngay cả người dân ngoại cũng biết quan niệm rằng mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên Hay giỏi cỡ nào đi nữa mà Trời không muốn thì con người cũng đành bó tay. Cho nên người quân tử theo Nho giáo là người rất lạc quan, vì luôn sống theo thiên mệnh làm hết sức, nhưng cũng phó thác hết mình. Khi ta đã sống tận tình, thì dù cuộc sống có còn nhiều tăm tối, nhiều cái trì trệ, dở dang từ bản thân cho tới cộng đoàn, từ con người cho tới công việc, thì chúng ta cứ hãy an tâm, lạc quan, phó thác hoàn toàn cho quyền năng và lòng thương xót Chúa. Cũng có đôi khi Chúa muốn để tình trạng yếu kém như thế là để chúng ta biết dựa vào Chúa, chứ đừng dựa vào mình. Thánh Têrêsa cho đó là một ân ban lớn lao. Điều nguy hiểm khi con người chỉ cậy dựa vào sức mình, đó mới chính là vực thẳm đáng sợ nhất. Trong sự cậy dựa vào Chúa, qua thư gởi chị Céline, Têrêsa viết “Quả thực, em không luôn trung tín đâu, nhưng không bao giờ em nản chí, em phó thác mình trong tay Chúa Giêsu. Như hạt sương nhỏ, em chìm sâu vào tận đài Hoa Đồng nội Cực Thánh’, và nơi đó em tìm lại được những gì đã mất, và còn hơn thế nữa”. Thánh Nữ dám quả quyết “Dù em có thấy lửa tình yêu như tắt lịm trong lòng, em vẫn cố ném vào đống tro tàn những cộng rác nho nhỏ và em tin chắc thế nào rồi lửa cũng bùng cháy lại”. Quả là một sự tin tưởng phó thác hết mình, một sự liều lĩnh hoàn toàn trong tình yêu, để Têrêsa có được tất cả trong mọi hoàn cảnh khốn khó của đời sống mình. An vui, hạnh phúc trong đời không thiếu, chỉ thiếu sự lạc quan tin tưởng và phó thác để phát sinh an vui và hạnh phúc. Lm. Thái Nguyên 7/8/2006 Đọc bộ sách này cho con, các phụ huynh sẽ hiểu rằng, mỗi ngày đi học là một ngày vui của trẻ chứ không phải các điểm số. Đọc bộ sách mới này cho con, các phụ huynh sẽ hiểu rằng, mỗi ngày đi học là một ngày vui của trẻ chứ không phải các điểm số. Bộ sách chào lớp học mới gồm 3 cuốn Mầm non à, tớ đến đây!; Lớp một à, tờ đến đây!; Lớp hai à, tớ đến đây! của tác giả D. J. Steinberg khiến chúng ta thấy được niềm vui của con trẻ cần nuôi dưỡng như thế nào khi đến trường hơn là điểm số. Có lẽ nhiều cha mẹ biết điều này nhưng không phải ai cũng biết cách giúp con có được niềm vui ấy. Một trong những cách đơn giản mà cực kỳ hiệu quả đó là để mỗi ngày đến trường là một ngày vui của trẻ chính là nên đưa trẻ đọc những cuốn sách vui nhộn, ngộ nghĩnh viết về trường lớp. Cuốn sách gối đầu giường về một chuyện cực kỳ lớn của bất cứ bạn nhỏ nào. Mầm non à, tớ đến đây! - cuốn sách gối đầu giường về một sự kiện trọng đại đầu đời của bất kỳ em bé nào bắt đầu đi học. Giờ kể chuyện ngày xưa "nào vua chúa và nữ hoàng, chàng mèo mang mũ méo", giờ vui chơi ai cũng được đóng "những vai này, vai nọ" như "lính cứu hoả sẽ tới dập lửa ngay",... Lớp một à, tớ đến đây! - cuốn sách gối đầu giường về một chuyện cực kỳ lớn của bất cứ bạn nhỏ nào chia tay mầm non, bước vào lớp một. Bao nhiêu bỡ ngỡ, bao nhiêu điều mới mẻ thú vị ví như giờ "học đọc, học viết với trừ trừ cộng cộng", giờ đánh vần với "đủ quy tắc lằng nhằng", giờ học toán thì cực kỳ hóc búa như "có bốn kẹo đỏ, thêm ba kẹo xanh, cộng một kẹo vàng nho nhỏ"… Lớp hai à, tớ đến đây! - cuốn sách gối đầu giường dành cho các bạn nhỏ trong hành trình khôn lớn của mình - đi học. Nếu mầm non có nhiều lo lắng, lớp một ngỡ ngàng, thì lớp hai với các bạn nhỏ sẽ có thật nhiều ý nghĩa. Vì lớp hai, lớn rồi, nên ở lớp các bạn được học bao nhiêu điều hữu ích học về "gia đình, cộng đồng, thành phố, vùng lãnh thổ…" để có thể hiểu được "chúng ta đã dính vào nhau như thế đó!",... cuốn sách gối đầu giường dành cho các bạn nhỏ trong hành trình khôn lớn của mình - đi học. Bộ sách "Chào lớp học mới" với mỗi cuốn sách giống như một cuốn phim quay chậm để trẻ hình dung được trọn vẹn một năm học với tất tần tật mọi hoạt động vô cùng thú vị từ vui chơi đến học tập. Điều độc đáo là cả 3 cuốn sách đều viết theo lối văn vần giàu nhịp điệu kết hợp cùng những lời thơ ngộ nghĩnh, dễ thương, và được minh hoạ bằng những hình ảnh vô cùng sinh động, tươi tắn, nên khi đọc sách, trẻ như đang được nghe những lời thủ thỉ của một người bạn vậy. Tình Lê 8 đúc kết tinh tuý về kinh doanh của Jack Ma nằm trong một cuốn sách "Jack Ma Nghệ thuật xây dựng và lãnh đạo tập đoàn" vừa được mua bản quyền để phát hành tại Việt Nam. Phục dựng tủ sách của dịch giả "Đắc nhân tâm" 120 tựa sách của học giả Nguyễn Hiến Lê, trong đó phải kể đến những cái tên đặc biệt như 'Đắc nhân tâm', 'Quẳng gánh lo đi và vui sống'… được ông dịch ra tiếng Việt sẽ lần lượt giới thiệu tới độc giả. Cuốn sách 'không bình thường' luôn nằm top best-seller Chưa đầy 2 năm kể từ khi ra mắt, 'Convertible – Biến hóa Mô hình' luôn nằm trong nhóm sách bestseller tại Anh. Bộ sách là món quà sinh nhật đặc biệt và được đề nghị nhiều nhất của các bé 2-10 tuổi ở đất nước này.

mỗi ngày đi học là một niềm vui